Friday, June 5, 2009

TẢN MẠN VỀ TUỔI GIÀ




Tuổi già bên cạnh vợ con và...
các cháu







TẢN MẠN VỀ TUỔI GIÀ
Nguyễn Ngọc Nhơn
Cựu Sinh viên Trường Hàng Hải
Pont K. 13

Trăng bao nhiêu tuổi trăng già,

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non. (Tản Đà)

Sáu mươi mấy tuổi rồi mà tôi vẫn chưa biết là mình già hay còn trẻ… chán! Ra ngoài, những anh chị lớn tuổi hơn thì nói tôi còn trẻ, khoái chí! Tới khi con cái dắt mấy đứa cháu nội tới thăm, nghe câu: ”Thưa ông nội”, tôi mới xác định được vị trí của mình: hết còn chổ đứng trong giới trẻ mà chỉ còn… chổ ngồi kế bên Bà Nội!
Lần đầu về Việt Nam, thoáng một cái đã ở bên Pháp 18 mùa Đông (tại lạnh quá nên dể nhớ hơn mùa Xuân), chưa kể mấy năm cải tạo và lưu lạc bên Nam Dương. Về lại chợ Thủ, thời gian hình như đã dừng lại từ lúc tôi ra đi: những chuyện xa xưa tựa hồ như chỉ mới xãy ra cách đây mấy bửa. Gặp một em trai ngoài chợ Bình Dương, mừng quá gọi lớn: Ê! Tường, khỏe không mậy? Bổng giật mình nghe câu trả lời: Chú hỏi gì vậy ? Má ơi! vậy mà tôi cứ tưởng mình vẫn còn trẻ, cùng lứa tuổi với em đó, tưởng là thằng bạn nên kêu lầm tên nó thuở nào! Hỏi ra mới biết, nó chính là con của thằng Tường, bạn học cùng lớp ngày xưa. Hèn chi, giống Cha nó quá! Tới thăm, vẫn cảnh củ nhưng qua bao tháng năm, chỉ còn trơ lại như căn nhà diển tả trong bài Hàn Nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ.
Bạn bè gặp lại, mừng mừng tủi tủi. Nội Ngoại Suôi gia hết trơn rồi mà vẫn quen miệng Mầy Tao như thuở đầu trần chân đất. Nó nói tôi phát tướng, thấy là biết Việt Kiều. Tôi nhìn lại nó, ốm nhom, áo quần tơi tả. Chỉ có một điểm giống nhau, xin mạn phép cụ Phan Khôi:
Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ nơi xứ Thủ gặp lại nhau.
Hai mái đầu xanh giờ nay đã bạc,
Nếu chẳng quen nhau,
Đố mà nhìn ra cho được…

Một buổi sáng đẹp trời, sau giấc ngủ êm đềm, người thiếu phụ thức dậy sửa soạn, chuẩn bị cho một ngày mới. Đang ngắm bóng mình trong gương, bất chợt, nàng giật mình thảng thốt: hình như có một sợi tóc bạc quái ác ẩn hiện giửa những mượt mà đen bóng. Cố nhìn cho kỷ lại, trời ơi, đúng rồi. Không, trăm lần không, vạn lần không. Nàng không thể chấp nhận được sự phản bội tàn nhẩn đó. Nàng thấy mình còn quá trẻ, tâm hồn còn ngập đầy thơ nhạc, thể xác còn căn tràn sức sống, hát karaoke còn dài hơi vững nhịp, cặp chân còn khá dẽo dai suốt đêm trên… sàn nhảy. Nàng vẫn còn đang Xuân phơi phới đấy! Bằng mọi giá, phải nhổ cho được sợi tóc quỉ quái mới được! Từ đó, nàng đâm ra mất ngủ vì lo sợ mình già. Hể soi gương là kiếm… tóc bạc. Nhổ ít, bạc ít, nhổ nhiều bạc nhiều, càng nhổ càng bạc. Phát biểu như các quản giáo hồi còn trong cải tạo: Rồi đây nàng sẻ quá độ lên giai đoạn… sói mà không kinh qua giai đoạn bạc. Cuộc tình sẻ rụng rơi mái tóc giả chứ không lạt phai màu tóc nhuộm. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý sợ già của quí bà, trước sau như một, sẽ không bao giờ thay đổi! Nàng đành tự nhủ: sợi tóc bạc cũng có cái duyên riêng cùa nó chứ! Thôi già rồi, dù đó chỉ là Già Không Đều vì tuổi thì già nhưng tâm hồn thể xác vẫn còn có chổ Trẻ.
Em tuy… năm mấy hãy còn xuân!

Nhớ lại một kỹ niệm vui hồi còn trong Trại Cải Tạo. Lần đầu tiên được xem phim câm, chiếu ngoài trời, phụ đề tiếng Anh phía dưới có tên “Trẻ Mãi Không Già” mà tức cười. Nàng bộ đội cầm micro thuyết minh. Trên màn ảnh, có một cặp tình nhân trên bải cỏ. Nàng nằm dài, chàng ngồi kế bên. Đôi mắt mơ màng, môi nàng mấp máy và chàng cuối đầu xuống. Trên màn ảnh, thấy chữ Kiss Me My Love. Giọng nói cô thuyết minh bổng trở nên lạnh lùng dử dội như ra lệnh: Cuối Xuống Tôi Bảo ! Anh em vổ tay, cười rần rần. Lại có ông già, ngồi quay hoài cuộn chỉ trong cái máy thời gian. Lúc ra về, ai nấy cười quá xá: Mút chỉ rồi anh em ơi, Ở Mải Không Về chứ không phải Trẻ mải không Già. Hết cuộn chỉ này thay cuộn khác.

Tới đầu năm 1976, trước Tết Bính Thìn, có nhiều người ra về theo diện bà con Cách Mạng bảo lảnh. Đám còn lại như tôi, loại con bà phước, cháu ni sư thì ta cứ yên tâm ở lại học tập cho nó tốt thôi! Ngày về, sớm hay muộn là tùy… các anh. Sau đó ít bửa, anh bạn chung một A kể lại giấc mơ lạ kỳ: Anh chiêm bao thấy đang ngồi, tự nhiên có một ông già, tóc bạc phơ đến vổ đầu, miệng nói: Thiệt tội nghiệp cháu quá. Ngac nhiên, anh hỏi, Ông là ai vậy? Bị ổng mắng: Tổ Cha mầy, thời buổi này con cháu đâm ra bất hiếu hết trơn. Tao là Ông Nội mầy, từ mấy tháng nay mầy viết đi viết lại tên tao cả chục lần trong bản tự khai ba đời đó. Tôi lật đật thưa Ông Nội, họ kêu con khai chứ con đâu có biết mặt. Mà ông nội đi đâu vậy? Trả lời: Bà nội mầy ở dưới khóc quá trời, thấy ai được bảo lảnh cũng ra về hết trơn nên Bã kêu tao lên đây làm giấy cho mầy sớm theo về… với Ông Bà!

Gặp lại sau mấy lần chuyển trại, tuy nét mặt vẫn trẻ trung nhưng tóc đà bạc trắng. Anh cũng vẫn tiếu lâm như ngày nào: học tập chưa xong mà đầu đã bạc. Thôi, ráng ở lại đây, học cho xong môn Song Thủ Hổ Bác, Tay Búa Tay Liềm của Bác Ngoan Đồng để Cách Mạng trang bị cho bộ râu và cây gậy mới mong mai sau có chổ đứng trong lòng dân tộc. Nếu không thì chắc ngồi luôn chứ oải quá rồi, sức ở đâu mà đứng nổi nữa.

Có một người cùng đơn vị, lớn tuổi hơn, trước kia là Sếp tôi, mới được con bảo lảnh qua đây năm 1990. Mười mấy năm được Nhà Nước lo cho ăn học trong Trại Cải Tạo, nên răng rụng gần hết. Qua đây rồi mà anh cũng không chịu mang răng giã. Anh triết lý rất hay: Răng hư là triệu chứng bộ tiêu hóa có vấn đề. Cơ thể đã già lại còn mang răng giã chỉ để nhai xương cho dòn chứ tuổi này còn dám cười duyên với ai! Bày đặt gắn cái đó, bao tử chịu không nổi thì có nước húp cháo rùa. Tôi hỏi ông ta, ngày xưa anh đi tu nghiệp bên Mỹ như đi chợ, về đơn vị khoe với em út vụ “trả Thù dân tộc”, vậy chớ qua đây anh có đi trả thù chưa? Cười trừ: Người mình khi nói về đàn ông, đàn bà thì hay lắm chú à. Còn trẻ thì gọi là hai vợ chồng, có nghỉa đàn ông trẻ khỏe hơn đàn bà nhiều, hai vợ một chồng cũng được, bảy ba ra vô không kể. Tới khi già yếu rồi thì kêu là hai ông bà. Lúc đó thì ngược lại, bà khỏe hơn ông! Nước chảy ngày càng tới, đến lượt chú rồi, mới thấy tuổi già nó dở đủ thứ. Như tôi bây giờ, vạn sư hưu, xí xóa bỏ qua hết cho yên thân.
Nợ Đầm đem trả cho Tây,
Tuổi già ốm yếu, ăn chay, đi chùa.
Không phải ốm vì yêu hay yếu vì ôm đâu nhé!
Một đồng hương ở Pháp lâu lắm rồi, về hưu từ năm 1974, kể lại tuổi già bệnh hoạn của ông làm tôi cười đau bụng. Rảnh rổi, ông đến mấy trại tiếp cư tỵ nạn, thông dịch, làm giấy tờ giúp miển phí cho dân mình. Thấy ai nấy ốm o gầy còm, ông tội nghiệp hỏi: Sau 75, thuốc men không có, lở bệnh hoạn rồi làm sao? Nghe trả lời: coi vậy mà trời sanh trời nuôi bác ơi, không có thuốc tây thì mình trị theo lối Việt Nam cũng hết bệnh hà! Ngạc nhiên, ông hỏi lại, Ủa, trị theo lối mình là trị cách nào? Người kia đáp: Bây giờ, có nhiều thầy trị hay lắm, chẳng hạn như cháu đây, hồi trước nói xin lổi, đi tiểu kiến bu chớ phải chơi đâu mà nhờ ông Thầy Nước Lạnh trị cho cháu có hai ba tháng thôi là dứt cái vụ đó. Trị dể ợt, không cần thuốc men gì hết! Trời ơi, ông cũng bị bịnh như anh kia từ hồi năm mươi mấy tuổi đến nay, phải kiêng cử đủ thứ. Thuốc tây thì uống mổi ngày, sáng ra cà phê với đường giả. Thèm miếng bánh sinh nhật của thằng cháu nội đích tôn hết sức mà không dám rớ. Việc gì quên được chớ uống thuốc thì không à nha! Cho nên vừa nghe nói, ông vui như lân thấy pháo hỏi liền: Vậy sao, đâu chú nói cho tôi nghe coi. Người kia giải thích, đâu có gì, cứ mổi buổi sáng thức dậy, bác uống liền một hơi 1 lít rưởi nước lã. Rồi trước hai buổi cơm trưa chiều, uống thêm nửa lít. Nhớ đừng ăn vặt, chừng qua một tháng thôi là bác thấy kết quả. Nó rửa sạch trơn gan ruột, hết bịnh luôn ! Bán tín bán nghi, nhưng ông nghĩ trong bụng, tưởng làm sao chớ trị cách đó thì dể quá ! Hồi còn bên Việt Nam, bia 33 uống cả thùng, sá gì ba cái lẻ tẻ, đồ cái thứ 1 lít rưởi buổi sáng. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, đồng bệnh thương nhau, ông lật đật phone cho ông bạn già người Pháp làm chung Sở, để báo phương cách mầu nhiệm trị bệnh tiểu đường mới nhập cảng từ ... Việt Nam! Cả hai vui mừng quyết định ngày mai áp dụng liền.
Rạng ngày sau, thức dậy sớm, lấy chai nước suối Evian loại 1 lit rưởi chế ra ly. Nghĩ trong bụng, có 6 ly 0.25 như vầy nhầm nhò gì! Ông ực một cái trót lọt. Một ly nửa, đi ngọt ngay. Thêm ly thứ ba, phải lấy… hơi, uống hai lần. Tới ly thứ tư bắt đầu… khựng ! Lạ chưa! Sao bia xuống trơn tru mà cái thứ nước suối mắc dịch này lại kiếm chuyện kỳ cục vậy cà ! Phải gần 20 phút mới uống xong 6 ly, nhìn lại đồng hồ, sắp trể xe bus. Ông lật đật mặc áo, xách dù ra đi. Lên xe, vừa ngồi xuống ghế, nhè phát chứng… mắc tiểu. Má ơi, hồi nãy, lụp chụp sợ trể xe, quên hát phim ngắn. Chịu trận gần 20 phút với bầu tâm sự nặng trĩu mới tới trạm xuống. Nhiều lúc xe bị dằn xóc, ông muốn chết được chớ phải chơi đâu! Tội cho ông, xuống trạm phải lết bộ gần 200 m mới tới cổng, sau đó phải đi né bên lề đường dẫn vào trong cơ quan, sợ rủi ro gặp ai đó chào hỏi bắt tay thì có nước qua đời. Nhẹ bầu tâm sự vừa xong, thấy ông bạn Pháp gương mặt hầm hầm chung vô thế chỗ, miếng nói: Mẹ họ, chút xíu nửa là có án mạng xảy ra trên xe bus rồi, mắc tiểu quá chừng mà thằng tài xế dịch vật lái xe như đi ăn cướp không tránh ổ gà thiếu điều bể bọng, tưởng chết rồi chứ!
Có sự khác biệt rất xa về quan niệm tuổi già của dân VN với dân Âu Mỹ, giữa người mình ở trong, ngoài nước, ông bà hồi xưa và đời bây giờ. Với dân Âu Mỹ, hỏi tuổi đàn bà là điều khiếm nhã vô cùng, nhất là đối với người lớn tuổi. Thân thiện lắm thì câu trả lời cũng rất Tây, tuổi Song Nam, Hổ Cáp…Cái chết không có nghĩa lý gì hết nhưng chỉ buồn là sáng ra không còn được uống ly cà phê nóng (M. Pagnol).
Trên tàu Pháp, tiếng lóng gọi Commandant là Le Vieux, Le Pacha, coi như ông già là chức vị mặc dù nhiều khi ông vẫn còn trẻ.
Lúc mới qua, tôi có quen một người Pháp cùng tuổi. Lúc đó, anh vẫn còn độc thân vui tính. Hai mươi năm sau gặp lại trên hè phố, tay bắt mặt mừng. Cùng nhau đi dạo, để ý thấy anh đi hơi cà nhắc. Tôi hỏi thì anh ậm ờ không trả lời. Đi ngang qua tiệm giày, có một kiểu vừa ý, anh liền vào mua. Thử được số 42, anh lại bảo cô tiếp viên gói cho anh một đôi số 41. Tôi ngạc nhiên hỏi, anh mua tặng cho ai vậy thì anh bảo không, mua cho anh ta! Tôi nói làm sao đi được đau chân chết. Sau đó, anh giải thích, từ ngày vợ anh có tuổi, bà đâm ra sanh chứng gắt gỏng. Mỗi khi thấy mặt anh là hình như có chuyện để cằn nhằn cự nự. Về nhà không có gì vui. Chẳng thà anh mang đôi số 41, dù phải cà nhắc ngoài đường nhưng bước vô nhà, lột đôi giày ra, sướng tê người, quên luôn Tổ Quốc, mặc cho bà muốn nói gì thì nói (Ê, ê, đây là chuyện Tây, quí vị liền ông phe ta đừng tưởng thiệt bắt chước là tụi mình… què với nhau hết đó).
Một tác giả Pháp, viết về tuổi già Việt Nam nhận xét hết xẩy là người mình suốt đời chỉ biết lo cho con cháu, không bao giờ nghĩ đến chuyện dành dụm riêng tư. Đến lúc làm việc không nổi nữa thì ở nhà giữ cháu. Đám con lớn lên, đi làm nuôi lại cha mẹ vì người dân thường ở xứ mình không có trợ cấp cho người già. Người Pháp khi lớn tuổi, họ tính từng ngày mong nghỉ việc lảnh tiền hưu, đi chơi. Người mình còn sức là còn làm, ở nhà phụ với con cháu được cái nào hay cái đó.
Đời sống ở nước ngoài cũng ảnh hưởng khá nhiều đến dân mình: thích đi du lịch, họp bạn đồng hương, hoạt động xã hội, karaoké, khiêu vũ… Những chuyện đó, nếu còn ở lại Việt Nam, chưa chắc gì mình làm. Tuổi già ở VN rất cam phận, ngồi yên, đi đứng thong dong, từ tốn, hai tay đong đưa không quá gối. Ra ngoài nhìn thẳng, không ngó ngược ngó xuôi, sợ thiên hạ chê già mà còn ham vui mất nết.
Chắc chưa có ai dám khai sanh tên con mình là… Già! Nè, bộ tính giởn mặt, hết tên đặt rồi sao Cái già coi như là danh từ duy nhất, ngoài ra nó là tĩnh từ. Gọi ai là thằng cha già, con mẹ già tức có vấn đề và thường đi đôi với trạng từ… gân, dịch, ham vui, bứng giựt, bộp chộp. Dân Việt Nam ở đây gọi tiếu lâm là… Già Không Đều. Thời tụi mình còn nhỏ, ông nội, ông ngoại nghỉ trưa thì mình đi kiếm chổ khác chơi. Bây giờ đó hã, khỏi đi! Muốn đi thăm cháu, thì ông nội phải phone trước coi nó thức chưa rồi mới dám đi chớ không, tới nhà bấm chuông cháu nó giật mình! Xưa, cha mẹ đặt đâu thì con ngồi đó. Ngày nay, con chỉ chổ nào thì mình ngồi chổ đó cho yên.

Già cưng cháu là chuyện thường. Nhiều khi cưng quá mình cũng bị kẹt. Ba tôi, mỗi khi đi công chuyện dưới Sài Gòn, đều ghé qua nhà thăm mấy đứa cháu. Có lần, nhè trước mặt ông mà tôi phát vô mông thằng cháu nội đích tôn, ông liền xách gói bỏ về Bình Dương. Sau đó Vú tôi kể lại là Ba tôi than phiền, nó sanh con ra… để đánh. Ông đã quên hồi tôi còn nhỏ, ăn bánh tét hỏng nhưn dài dài…
Người già thuở xưa bên Việt Nam không sợ chết mà lại sắm quan tài để sẳn sau nhà, xây kim tỉnh. Ngày nay, già phải tẩm thuốc bổ, uống kích thích tố cho sống thọ để… yêu đời, cởi ngựa, ngắm hoa.
Điều kỳ lạ, ít có ai tự thấy mình già. Bạn bè lâu năm gặp lại, người này thấy người nọ già quá trời. Cái già hình như chỉ dành cho người khác.
Sợ già là điều cố hửu của con người. Đến khi thực sự già, chấp nhận mình già lại đâm ra sợ đủ thứ chuyện: sợ ăn uống không tiêu, sợ mỡ sợ đường, đi đứng sợ té, sợ trái gió trở trời. Trong bài Ngỏ Ý của Nguyên Sa có đoạn: Đợi đến ngày mai, tôi e sợ rằng đời sẽ bỏ tôi làm phu lục lộ, đi đo sự già nua của tâm hồn mình bằng mớ tóc bù tung và đôi mắt quầng thâm của người yêu, nàng đi lấy chồng rồi và sinh con đẻ cái.
Cách đây mấy năm, truyền hình Pháp có chiếu phim tài liệu, nói về một làng hẻo lánh bên Nam Mỹ, nằm giửa thung lủng của rặng núi Andes. Nơi đây, toàn những người sống trên trăm tuổi mà vẩn còn khỏe mạnh, cày cuốc làm việc ngoài đồng áng (làm việc thôi nha, còn… vụ khác thì không có nghe bàn tới). Tác giả phim trên còn kể lại chuyện vui xứ đó: Trên đường, thấy có một ông già chừng 70 tuổi, vừa đi vừa khóc. Động lòng, anh ta dừng xe lại hỏi xem ông ta có cần gì không thì ông cho biết vừa… bị cha đánh đòn! Quá ngạc nhiên, nhưng anh ta cũng kiếm cách an ủi: Thôi, ông đừng buồn, dù sao cũng là cha mình. Nghe vậy, ông càng khóc lớn hơn vừa nói: không phải vậy mà vì lần này bị đòn mà… ông bà nội tôi không có can!
Sống lâu nhứt ở Pháp phải kể là bà Jeanne Calment. Báo chí loan tin buồn khi Bà từ trần năm 1997 hưởng thọ… 122 tuổi. Nghe nói hình như có một người vui. Chuyện gì mà kỳ cục vậy ! Người ta qua đời mà lại vui?
Thì ra, bên Pháp, có lối bán nhà rất lạ của những người già (Viager). Đại khái, người bán đòi một số tiền lớn nào đó (bouquet) tương ứng với bao nhiêu phần trăm của căn nhà. Sau đó, mỗi tháng người mua phải trả góp (Rente) như tiền mướn nhà cho đến khi nào người bán qua đời thì nhà đó mới thuộc sở hửu người mua. Có khi là nhà trống, người mua vào ở liền. Có khi người bán ở lại đó, người mua cứ chờ đến khi nào người bán qua đời mới lấy được nhà. Thỏa thuận mọi đìều kiện, giá cả dỉ nhiên tùy thuộc và số tuổi, sức khoẻ của người bán. Như đánh bài vậy mà, năm ăn năm thua
Khoản 42 năm trước khi Bà mất (lúc đó cũng đã trên 80 tuổi rồi) có người chịu mua viager căn nhà của Bà, với điều kiện bà được ở lại đó. Nhà đẹp, tiền Bouquet khá lớn, tiền trả hàng tháng cũng cao vì người mua chắc mẩm rằng chừng vài năm nửa (ai biết đâu, nhiều khi ngày… mai bà ra đi hổng chừng) căn nhà sẻ thuộc về mình, tha hồ lời tiền của, sướng nhé!
Nào ngờ, ai cũng học hoài mà không thuộc được chử Ngờ ! Hàng tháng cứ phải lo trả tiền nhà mà lại không được vô ở. Mắc thấy mồ chứ đâu có rẽ, biết làm sao bây giờ. Mong cho bà ra đi mà bà vẩn sống khoẻ mạnh ngon lành. Sẳn tiền đó, bà chỉ có việc mua sắm, cho tiền con cháu thôi. Người mua, quá mỏi mòn vì chờ đợi, bèn… qua đời trước bà sau gần 20 năm đóng hụi mà vẩn chưa được vô nhà. Người con của ông ta phải tiếp tục trả nợ thêm 22 năm mới được dọn vào.
Trong phạm vi văn chương, như truyện Kiều chẳng hạn, Nguyễn Du diển tả cái già đến rất đường đột, tàn nhẩn. Nó len lén chen vào cuộc đời hồi nào không hay để rồi bất chợt, hất chân con người:
Chơi Xuân kẻo hết Xuân đi,
Cái già sòng sọc nó thì theo sau.

Cho nên, chúng ta phải vui sống, trào phúng, đừng thèm nghĩ mình già hay trẻ cho mệt. Nguyễn Công Trứ hóm hỉnh tự trào trong bài Tuổi Già cưới Nàng hầu:
Giai nhân dục vấn tân lang kỷ,
Ngủ thập niên tiền nhị thập tam!
(Đêm động phòng em hỏi anh mấy tuổi? Nói cho em biết nha, 50 năm về trước anh mới có… hăm ba hà!!).

Giởn cho vui chút thôi, nếu có về bên nhà, nhớ nghe, tui nhắc lại là đừng có nghe mấy nàng ngâm nga, tình tứ đâm ra mờ mịt tưởng thiệt là chết bỏ xác đó nha:
Đứng xa cứ tưởng…Ông Già,
Lại gần mới biết, chỉ là… Chú thôi.
Nắm tay, đích thực… Anh rồi,
Lên giường thủ thỉ là… Tôi với Mình.
Để rồi sau đó trở qua đây, lén thở than một mình không cho má bầy trẻ biết:
Chưa đi, chưa biết Sài gòn,
Trở về bên Mỹ, hổng còn một xu!
Nghĩ ra mới thấy mình… ngu,
Thằng lớn nhịn đói, thằng cu… ngoẻo đời!

Ba bài thơ liên hoàn Lão Tướng Quần Vợt của cụ Hương Thủy đã từng làm các Nử Đấu Thủ đỏ mặt, bỏ vợt chịu thua:

1. Càng già càng dẻo lại càng dai,
Lão tướng ra quần chẳng kém ai.
Đấu mấy hiệp liền không chịu nghỉ,
Tranh ba ngày lẻ chẳng mòn hơi.
Khi mau, khi chậm khi mơn ngắn,
Lúc xuống, lúc lên, lúc thọc dài.
Gác qua, gác lại phô đủ kiểu,
Mòn lông banh nỉ Lão còn chơi!

2. Mòn lông banh nỉ Lão còn chơi,
Cầm sức cho nên chẳng dám lơi.
Chống đở gay go, sùi bọt mép,
Cò cưa dai dẳng toát mồ hôi.
Chơi trưa chưa phỉ đòi chơi tối,
Đánh chiếc xong rồi lại đánh đôi.
Phút chốc cơn mưa đâu ập đến,
Cuộc vui hào hứng tạm ngưng rồi.

3. Cuộc vui hào hứng tạm ngưng rồi,
Lát nửa lau khô, Lão lại chơi.
Biểu diển sân quen, hay đáo để,
Nắn dồi banh mới, sướng mê tơi.
Người trên ụp xuống phì phào thở,
Kẻ dưới nâng lên, khúc khích cười.
Đối thủ gặp nhau mùa nắng cực,
Quần năm ba hiệp ngã lăn nhoài!

Già thường sinh ra lẩm cẩm, nói nhiều mà toàn là chuyện đời xưa, đời trước. Vô lai rai ba sợi, hứng chí, còn dám mở máy radio kể, khoe các chiến tích vẻ vang trên tình trường với chị hàng xóm mà vốn xưa nay nín thinh, dấu nhẹm bà xả. Nè, ngậm miệng lại dùm nghe quí vị liền ông ! Chết cả đám rồi lây lan tới bạn bè chớ không phải chơi đâu! Trong Cải Tạo gọi là: Phải khai báo thành khẩn thì C. M. (đọc là… Con Mẻ) sẻ tha thứ vì C. M. biết hết rồi, không dấu diếm được đâu hihihi. Tây nói: Muốn nói láo với Bà Xả, phải có trí nhớ dai! Ê, mấy quí ông chồng phải trả cho tui $5, tiền nhắc nhở quí báu đó à nha!

Trời sanh người đàn bà không bao giờ quên bất cứ chuyện gì của ông xả mình. Như hai ông bà kia ra ngồi ghế đá công viên phơi nắng sáng, bà nói với ông: Em nhớ ngày xưa, hồi mới quen nhau, lần đầu tiên hẹn hò đi chơi, anh ngồi sát bên em trong công viên Tao Đàn như trong thơ Xuân Diệu vậy. Ông lật đật ngồi sát vào bà.
Bà tiếp tục: Mau quá, mới đây đã mấy chục năm rồi mà Em cũng còn cảm nhận cánh tay anh choàng qua vai em như hôm qua. Ông bèn choàng vai bà.
Mắt bà sáng lên, bà nói trong mơ: Lúc anh cắn nhè nhẹ vai em, em mắc cở quá chừng, sợ có ai thấy kỳ chết.

Nghe câu đó, ông vụt đứng dậy nói với bà: Em chịu khó ngồi chờ anh một chút nghen, anh chạy vô nhà lấy… hàm răng giã!!!
Thấy ớn chưa, lở có chuyện gì, mấy chục năm sau cũng còn nhắc hoài!
Nói vây chứ nhiều chuyện trước mắt thì già lại quên, chẳng hạn như kiếm hoài không ra tức muốn chết, cái món đồ mới cất đâu đó hôm qua mà bửa nay không nhớ thấy.

Chuyện tiếu lâm xưa, có ông già phụ nuôi cháu nội cho cha nó đi làm xa. Ông nổi danh trong làng vì thuộc làu mấy chục bộ truyện tàu. Làng xóm có chuyện gì, ông thường ví von đem chuyện Phong Thần, Tam Quốc… ra so sánh xưa với nay: Bởi vậy, hồi xưa . . .

Gởi cháu đi học, tới tháng lại không nhớ đóng tiền trường. Tháng nào như tháng nấy, phải nhắc hoài, thầy đồ đâm ra bực mình. Một hôm, thầy gọi đứa cháu lại bảo nó về nói với ông nội mày là hôm nay học câu: Hớn trào Tam Kiệt, Khổng Minh, Trương Lương Hàn Tín. Nó về kể lại trong lúc ông đang ăn cơm chiều. Bỏ đủa xuống, ông nói, Cha, coi bộ Thầy mày quên rồi đó. Ngày mai vô lớp, nhớ kín đáo nhắc ổng, Hớn trào Tam Kiệt là Khổng Minh Trương Lương Tiêu Hà chớ không phải Hàn Tín. Ngày sau, đứa cháu làm như ông nó dặn, thì Thầy đồ bèn nói nhỏ với nó: Mầy về nói với ông nội mày là chuyện xưa nhớ hay quá mà sao chuyện đóng tiền học mỗi tháng lại cứ quên hoài vây!

Già thích dạy đời nhưng nhiều khi cũng bị kẹt. Chuyện kể, cô nọ dắt em nhỏ đang đi trên đường bổng thấy hai con chó… dính với nhau. Đứa nhỏ hỏi, hai con chó đang làm gì vậy? Cô ta lật đật kéo tay nó đi sang qua phía bên kia đường,miệng nói: Thôi thôi đừng lại gần, mấy con chó đang… cải lộn với nhau đó. Ông già đi gần bên nghe vậy chen vô: Nói với con nít phải nói thiệt đừng tập nó nói láo. Cô bèn nổi giận cự lại: Ông già vô duyên ! Khi không lại xía vô chuyện người ta. Sửng sốt, ông đáp: Tôi già rồi mà cô vẩn còn muốn… cải lộn với tôi à!

Nhớ hồi nào còn trai trẻ, hùng dũng bước đều một hai, hát vang trời : súng là vợ, đạn là con, thà hao mòn hơn . . . cất kỷ ! Chỉ có một số ít người vì lý do sức khỏe hay sao đó nên được miển dịch vỉnh viển khỏi làm bổn phận . . . Công Dân Nam.
Rồi ngày qua đi, qua đi, qua đi . . . Để có một ngày, có một ngày chinh chiến . . . tàn ! Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi ngoài con chim héo . . . em ơi!

Một mai qua cơn . . . mê, đến lúc hát bài Giả Từ Vủ Khí, người thì âm thầm như những đêm không trăng sao, buông dao đồ tể thành Phật, súng đạn quăng cái xạch thành ông . . . Từ. Ngược lại, cũng có người không cam phận, còn nhớ tiếc thời vàng son, oanh liệt của mình như Hổ Nhớ Rừng . . . Lá Thấp:
Sáng nay, ngồi nấu nước chè,
Nhớ lại chuyện củ nó đè trong tim.
Ngồi buồn, ngó xuống con chim,
Xưa sao hùng dũng giờ im thế này!
Lắc qua, lắc lại mõi tay,
Sao cứ ủ rủ, ngây ngây, khờ khờ.
Thôi rồi ! Tàn một giấc mơ,
Cần câu còn đó, mồi trơ hết rồi . . .

Lúc tôi lập gia đình, cha tôi có nói một câu mà tôi nhớ mải đến bây giờ: Lấy nhau vì Tình, ở với nhau vì Nghĩa, sống với nhau cho phải Đạo, đó là 3 giai đoạn trong đời sống Vợ Chồng. Người đàn bà có thương có yêu mới chịu về làm vợ, nâng khăn sửa túi cho chồng. Họ mong đến khi tuổi già có nơi nương tựa, gọi là sống với nhau đến bạc đầu. Sanh con đẽ cái, nối dỏi tông đường, dung nhan không còn được như xưa, mình phải biết ơn mà đối xử cho phải Nghĩa. Khi lớn tuổi, qua mấy mươi năm chung sống dù không còn nói chuyện ríu rít với nhau nhiều như xưa nhưng tánh ý đã tương thông, đó là Đạo Vợ Chồng vậy.
Án Anh đem Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín ra thuyết phục Vua để từ chối đứa cháu trẻ của Ông ban cho, quyết lòng ở lại với người vợ già của mình, còn sáng ngời trong truyện xưa tích củ…

Thủ khoa Bùi Hửu Nghĩa, lúc bị tù oan, nhờ có Bà vợ lặn lội ra tận triều đình Huế đánh trống kêu oan mà ông được giải nạn. Đến lúc Bà qua đời, ông bận công vụ ở xa không kịp về tống táng. Ông viết hai câu đối rất thương tâm:
Ngã bần khanh năng trợ, ngã oan khanh năng minh, thiên hạ giai xưng khanh thị phụ
Khanh bệnh ngã bất dược, khanh tử ngã bất táng, thế gian đàm tiếu ngã phi phu.

Tạm dịch:
Thuở tôi nghèo, Bà giúp đở, Lúc tôi oan,
Bà giải tội, ai ai cũng khen: Bà xứng danh là Vợ Hiền
Bà lâm bệnh tôi không thang thuốc, Bà nằm xuống tôi chẳng cất chôn, trên đời ai cũng chê: Tôi không xứng mặt làm Chồng.
Thông tắc cùng, cùng tắc biến, biến tắc thông mọi sự đều mãi mãi trãi qua như vậy. Khi lớn tuổi, giác quan con người không còn bén nhạy như xưa. Âu cũng là điều may, nếu không mình sẽ triền miên trong Ngủ Uẩn.

Về lại Bình Dương, tối tối, ngồi nói chuyện với Ba tôi trước sân nhà, cỏ mọc um tùm, ếch nhái kêu inh ỏi. Tôi nói để nhờ người đến phụ với con, dọn dẹp sân vườn lại cho gọn gàng thì Ba tôi nói: Kệ nó con, Đừng Nghe, Đừng Thấy…
Ba tôi rất thích hai câu thơ nói về cuộc đời:
Lai như lưu thủy hề, thệ như phong,
Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung
Tạm dịch:
Tới như dòng nước, tan như gió,
Chẳng biết từ đâu, đi đến đâu.

Mãi mê nói chuyện, tới đây tự nhiên tôi thấy buồn cười cho chính mình: Tôi vẫn chưa thoát ra được hai chử Nghe và Thấy của Ba tôi dạy. Tôi vẫn còn Nghe Thấy rất rỏ trong tâm tưởng những việc thuở xa xưa. Tôi viết tản mạn như hồi học lớp Đệ Tứ dịch bài Thème bị Thầy Phạm Duy Nhượng (anh của Nhạc Sỉ Pham Duy) chê… Văn Hôi Nước Mắm !
Thuở đó, tôi vừa 14 tuổi, học đệ tứ trường Nguyễn Trãi Bình Dương. Bài Thème dịch 4 câu thơ ra tiếng Pháp, lời than thở của con trâu trong Lục Súc Tranh Công:
Trâu mõi mệt, trâu liền năn nỉ,
Một mình trâu, ghe nổi gian nan.
Lóng canh gà vừa mới gày tan,
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã . . .

Tôi dịch ra như vầy: Le buffle se dit pitié, je suis seul et travaille beaucoup. Dès que le coq chante, le propriétaire appelle tout de suite le berger . . .

Thầy P. D. Nhượng sửa lại :
Le buffle, exténué par un long travail, murmure ses plaintes.
Que de misères ai-je tout seul supportées.
Sitôt que le chant du coq annonce la fin des veilles
Le maître se hâte d'appeler mon gardien . . .

Đọc lại câu của mình, đúng là Văn Hôi . . . Nước Mắm thiệt ! Vì lời phê này mà tôi nhớ đến bây giờ. Tôi thấy hơi bị … Già Không Đều mặc dù Không Còn Có Chổ Trẻ( viết theo cách nói . . . thời thượng. Tới luôn bác tài, cho vui bao la, mênh mông . . . tình đời hihihi).

Những tưởng khi già mình sẽ khác người, rốt cuộc cũng lẩm cẩm, vật vờ y hệt. Xin mượn mấy câu thơ để kết luận bài này:
Lô sơn yên tỏa, Triết Giang triều,
Vị đáo sanh bình hận bất tiêu.
Đáo đắc hoàng sơn vô biệt vị,
Lô sơn yên tỏa Triết Giang triều.

Tạm dịch:

Khói ngút sơn Lô, sóng Triết Giang,
Chưa đi tới đó những mơ màng.
Tới nơi mới thấy không gì khác
Khói ngút sơn Lô sóng Triết Giang.

Labels:

0 Comments:

Post a Comment

Subscribe to Post Comments [Atom]

Links to this post:

Create a Link

<< Home